banner

Trang chủDu hoc Nhat BanNền giáo dục Nhật Bản

Du học Nhật Bản: Giáo dục tại Nhật Bản

29-05-2014 12:39:56 - Lượt xem: 1947

Chính sách giáo dục cơ bản của Nhật được nêu trong Hiến pháp và các nguyên tắc chi tiết hơn được nêu trong Luật Giáo dục cơ bản. Những nguyên tắc này là: bình đẳng, bắt buộc phổ cập và không phân biệt giới tính. Nghiêm cấm giáo dục chính trị đảng phái hoặc giáo dục tôn giáo bè phái trong các trường công và nghiêm cấm điều hành giáo dục sai lệch.
 


QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ

Nhật Bản đã trải qua hai lần cải tổ giáo dục chủ yếu Lần thứ nhất vào năm 1872 thiết lâp một hệ thống giáo dục đa dạng. Lần cải tổ thứ hai được tiến hành ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, thiết lập hệ thống giáo dục thống nhất như hiện nay 6 – 3 – 3 – 4, dựa trên cơ sở hệ thống giáo dục của Mỹ.

Ngay dưới thời Shogun Tokugawa, Nhật Bản đã có hàng nghìn các trường học Terakoya. Những trường này là những cơ sở giáo dục tư nhân nhỏ, thường tập trung quanh một giáo viên. Sau đó, từ sự khởi đầu cải tổ lần thứ nhất vào năm 1872, chính quyền Minh trị Duy tân đã bắt đầu một hệ thống tiểu học dân chủ học sáu năm cho mọi trẻ em không phân biệt giới tính, địa vị xã hội, hoặc giàu nghèo.

Hệ thống giáo dục Nhật Bản hiện hành đã được thiết lập ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai vào giữa những năm 1947 và 1950, lấy hệ thống của Mỹ làm kiểu mẫu. Nó bao gồm Chín năm giáo dục bắt buộc sáu năm tiểu học và ba năm trung học bậc thấp, tiếp theo đó là ba năm trung học bậc cao không bắt buộc và bốn năm đại học.

Không có những khóa học về kỹ thuật hay ngành nghề trong những năm giáo dục bắt buộc. Hơn nữa, không có hệ thống định hướng nào trong các trường tiểu học công và trung học bậc thấp. Trong các trường trung học bậc cao, khoảng 70% học sinh theo các chương trình đại cương.

Năm học cho các trường tiểu học và trung học bắt đầu ngày 1 tháng 4 và kết thúc vào 31 tháng 3 của năm sau.

Đặc biệt, Nhật Bản đã trải qua thời kỳ phát triển rất nhanh các trường trung học bậc cao. Khi hệ thống mới các trường trung học bậc cao được bắt đầu vào năm 1950, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học bậc thấp tiếp tục theo học các trường trung học bậc cao là 42,3%, nhưng đến cuối những năm 1960, con số đó đã tăng lên khoảng 80% – và trong vòng 5 năm tiếp theo, nó đã vượt quá 90%. Hiện nay, trong 9 năm học đầu tiên, 99,9% trẻ em Nhật Bản trong nhóm tuổi tương ứng theo học ở trường công hoặc tư. Hơn nữa, tỷ lệ học sinh tiếp tục học lên trung học bậc cao là khoảng 94%, và con số này đã ổn định trong hơn một thập kỷ.

Do Nhật Bản thay đổi từ hệ thống trường học đa dạng trước chiến tranh sang hệ thống thống nhất như hiện nay vào cuối những năm 1940, nên một số các loại trường học mới đã ra đời để đáp ứng các nhu cầu thay đổi của xã hội. Đó là các trường cao đẳng bậc thấp học hai và ba năm chính thức được công nhận năm 1950), các trường cao đẳng kỹ thuật 5 năm (1962) cho các học sinh đã tốt nghiệp các trường trung học bậc thấp, và cho các trường dạy nghề (1976) trong các lĩnh vực như thiết kế chẳng hạn. Người ta hy vọng các trường dạy nghề và cao đẳng kỹ thuật sẽ bổ sung cho giáo dục trung học bậc cao và cao học.

Giáo dục tiểu học và trung học Nhật Bản phần lớn tập trung ở các trường công.Tính đến tháng 5 năm 1987, tỷ lệ học sinh theo học ở các trường tư tiểu học, trung học bậc thấp và trung học bậc cao là 0,59%, 3,10%, và 28,0%. Tuy nhiên, phần lớn các trường mẫu giáo, trường trung cấp, các trường đại học và các học viện học bốn năm hoặc hơn là các trường tư. Chúng chiếm tới 76,3%, 93%,72,4% và 93,2% tương ứng với các trường kể trên.

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY:

Ở hầu hết các trường tiểu học và trung học bậc thấp, chương trình giảng dạy được biên soạn phù hợp với các khóa học trên phạm vi toàn quốc, vì vậy hầu như không có sự khác nhau về nội dung giảng dạy. Tuy nhiên, quy mô lớp học (số học sinh trong một lớp) lại rất khác nhau tùy thuộc vào địa điểm của trường học. Quy mô lớp học trung bình trong toàn quốc ở tiểu học là 31,5 và trung học bậc thấp là 38,1. Quy mô lớp học lớn nhất đối với các trường công trong giai đoạn giáo dục bắt buộc là 45. Năm 1987, ở các trường tiểu học, các lớp học có từ 41 đến 45 học sinh chiếm 13% trong tổng số (cụ thể là: 44.004 lớp trong tổng số lớp của toàn quốc là 330.324), trong khi đó các lớp có 7 học sinh hoặc ít hơn chỉ chiếm 6% (19.998). Các trường tiểu học công ở những vùng hẻo lánh được chính quyền địa phương thiết lập là những trường được quan tâm đặc biệt. Các trường này chiếm 19% (4.720) trong tổng số. Nhiều trường như vậy đã tổ chức các lớp học ghép các trình độ khác nhau do có ít học sinh.

Bộ Giáo dục quy định số giờ học hàng năm cho mỗi khối lớp. Hiện nay, số giờ học quy định cho khối lớp 1 , 2 và 3 là 850, 910 và 980. Cho các khối từ lớp 4 đên lớp 6 là 1.01 5. ở các truờng trung học bậc thấp, số giờ học hàng năm cho các khối lớp đều là 1.015 .

Để đáp ứng yêu cầu này, tất cả các trường công đều có tổng số ngày giảng dạy trên lớp ít nhất là 210 ngày, hoặc hơn 35 tuần. Có nhiều trường đề ra số ngày đến trường hàng năm là 220 ngày hoặc hơn. Trong chương trình giảng dạy sắp tới, số ngày đến trường hàng năm có thể là 39 tuần hoặc hơn.

Trong hầu hết các trường học, học sinh lớp trên học 6 tiết mỗi ngày từ thứ hai đến thứ sáu, riêng ngày thứ bảy học từ 2 đến 4 tiết. Tuy số ngày đến trường học tập cho mọi khối lớp đều như nhau nhưng các lớp thấp hơn học ít tiết hơn. Chẳng hạn, một trường tiểu học điển hình ở Tokyo cho học sinh lớp một học 5 tiết mỗi ngày từ thứ hai đến thứ sáu.

Tất cả các trường tiểu học công đều cung cấp bữa ăn nóng buổi trưa cho học sinh Tuy nhiên, ở các truờng trung học bậc thấp, việc cung cấp bữa ăn trưa là tùy ý, nó phụ thuộc vào chính sách của từng chính quyền địa phương. Các trường công trung học bậc thấp ở Tokyo có cung cấp bữa trưa nóng cho học sinh: nhưng ở một số huyện địa phương, học sinh phải tự mang bữa trưa cho mình.

Theo truyền thống, hàng ngày học sinh phải tự làm vệ sinh trường lớp mình. Một số trường làm vệ sinh sau bữa ăn trưa và một số trường khác lại tiến hành công việc này sau khi kết thúc giờ học. Thông thường, mỗi lớp được chia thành các nhóm có nhiệm vụ thay phiên làm vệ sinh lớp học của mình và các khu vực khác trong trường. Vào cuối học kỳ, tất cả học sinh đều cùng nhau tham gia làm tổng vệ sinh sạch sẽ toàn trường.

Ngoài các buổi học thông thường, học sinh còn tham gia các hoạt động khác như: những chuyến đi dã ngoại, những ngày thể thao liên hoan ca nhạc và sân khấu, thể thao mùa đông và cắm trại mùa hè.

Hầu như tất cả cha mẹ học sinh đều tham gia hội cha mẹ học sinh – giáo viên (PTA) và nhà trường thường vài lần mời cha mẹ học sinh đến trường dự các hoạt động trong lớp học của con em mình. Đôi khi, có trường còn chuyển các hoạt động trong tuần sang ngày chủ nhật để các bậc cha mẹ đang đi làm cũng có điều kiện dự các buổi học của con em mình.

JUKU

Ngoài những tài liệu, giáo trình học tập phong phú, Nhật Bản còn có nhiều juku – đó là các cơ sở giáo dục tư nhân ra đời vì mục đích kiếm lợi nhuận. Những cơ sở này được phân thành ba loại: dạy học sinh chưa có trình độ; có trình độ (các khóa để hoàn thiện, bổ sung và nâng cao) và chuẩn bị thi (cho các kỳ thi tuyển vào trường).

Nhiều học sinh lớp dưới, sau giờ học ở trường hoặc vào các ngày chủ nhật đã theo học ở các cơ sở tư chuyên dạy học sinh chưa có trình độ để học cách viết chữ đẹp, mỹ thuật, nhạc, bàn tính, thể thao v.v… Trong khi đó, những học sinh lớp trên có xu hướng theo học juku có trình độ hoặc juku chuẩn bị thi. Một khảo sát trong năm 1985 cho thấy 16,5% học sinh tiểu học và 44,5% học sinh trung học bậc thấp tham dự các lớp juku có trình độ. Đối với các cơ sở dạy học sinh chưa có trình độ, số học sinh tiểu học tham dự lên tới 70,7% và 27,4% học sinh trung học bậc thấp. Một số nhỏ (1%) học sinh tiểu học có giáo viên riêng tại nhà dạy các môn lý thuyết và con số này lên đến 5,4% đối với học sinh trung học bậc thấp.

Do bởi giáo dục thường quá chú trọng đến kiểm tra nên trẻ em thường buộc phải “nhồi sọ” theo một phương pháp giảng dạy cứng nhắc và được gửi đến các trường tốt hơn và đào tạo cao hơn. Một số nhà quan sát rất phê phán juku nói rằng nó đã sản sinh ra quá nhiều người khuôn mẫu, không có cá tính nổi bật, nhưng trong khi đó những người khác lại ca ngợi hiệu quả giáo dục của juku.

CÁC VẤN ĐỀ CỦA HỆ THỐNG THI CỬ

Hầu hết tất cả các trường tư và đa số các trường trung học bậc cao quốc gia đều có hệ thống thi tuyển nhập trường riêng của họ và thủ tục tuyển chọn giữa các trường cũng khác nhau. Trong các trường công trung học bậc cao ở các địa phương, mỗi quận thi hành hệ thống kiểm tra vào trường chung trên toàn quận và thủ tục tuyển chọn tại các trường trong cùng quận cũng giống nhau. Hầu hết các trường xem xét cả kết quả kiểm tra và quá trình học trước đó. Trong một vài trường hợp, họ chỉ sử dụng sự tiến cử (giới thiệu) và kết quả học tập. Đối với hầu hết các trường có khóa học về ngành nghề, khu vực tham dự học là cả một quận và việc sử dụng sự giới thiệu phổ biển hơn so với các trường đào tạo phổ thông.

Do quá trình tuyển chọn vào trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình đào tạo ban đầu, nên người ta đã cố gắng không ngừng để cải tiến các hệ thống kiểm tra nhập trường, và quá trình tuyển chọn đã đa dạng hóa để đáp ứng với tình hình của các địa phương.

Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại xung quanh hệ thống thi cử vào trường đại học của Nhật Bản, như đơn cử dưới đây :

1. Quá nhiều thí sinh tập trung thi vào một số ít các trường đại học có uy tín, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt.

2. Quá chú trọng vào kết quả kiểm tra, trong khi hầu như không xem xét đến khả năng toàn diện cũng như năng khiếu của mỗi thí sinh.

3. Các trường trung học bậc cao có khuynh hướng bị đánh giá dựa theo số học sinh được nhận vào các trường đại học có uy tín. Điều này thường cản trở sự phát triển toàn diện của học sinh.

4. Có sự chú trọng quá mức vào kết quả kiểm tra diễn ra một .hoặc hai ngày ở trường, thường được gọi là kiểm tra “một phát” với những câu hỏi đôi khi vượt quá chương trình giảng dạy thông thường của trường trung học bậc cao. Điều này đã dẫn đến sự ra đời của nhiều trường tư ngoài hệ thống trường học thông thường gọi là juku hoặc yobiko. Trẻ em của các gia đình không đủ khả năng cho con em mình theo các lớp học thêm như vậy, bị rơi vào tình thế không thuận lợi trong các kỳ kiểm tra vào trường kiểu “một phát” và như vậy nó đã phá vỡ quan hệ bình đẳng.

TRAO ĐỔI QUỐC TẾ

Ngày nay, nhiều học sinh Nhật Bản đang học ở nước ngoài và con số này mỗi năm một tăng. Trong năm 1992, có 130.401 học sinh đang học ở nước ngoài và 80% trong số đó sang học ở Châu Âu và Mỹ; cũng trong năm đó, có 48.561 học sinh nước ngoài đang theo học ở Nhật Bản và khoảng 90% trong số đó là người Châu á.

(Trung tâm TTTL&TVĐT theo Vitranet)

vape, vape shop, vaping in catalogue giá rẻ tại hà nội imperial plaza giải phóng dịch văn bản sang tiếng anh chung cư the golden palm lê văn lương

link 188bet khong bi chan

link vao 188bet

in tờ rơi giá rẻ hà nội

in tờ rơi giá rẻ hà nội

chung chi a2

dịch tiếng anh chính xác nhất

dịch tiếng anh sang tiếng việt nhanh nhất

dịch tiếng anh bằng hình ảnh

thuốc chữa bầm tím

keobongda



CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN DU HỌC VÀ DỊCH THUẬT OSC
Trụ sở Hà Nội: Số 24, Ngõ 184, Vương Thừa Vũ, Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội
Đường dây nóng: 1900 6689 
Email: duhoc@osc.edu.vn
VPĐD Hải Phòng: Số 68, Lô 26D,  Đường Lê Hồng Phong, Phường Đông Khê, Quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng
Đường dây nóng: 0225 821 568 ; 1900 6689
Email: luongnguyen@osc.edu.vn